Du lịch Việt Nam bước vào giai đoạn triển khai quy hoạch với 7 nhóm nhiệm vụ trọng tâm

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch vừa ban hành Chương trình hành động thực hiện Quy hoạch hệ thống du lịch thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Không chỉ đặt ra những mục tiêu về lượng khách và doanh thu, chương trình lần này tập trung cụ thể hóa các nhiệm vụ về hạ tầng, sản phẩm, thị trường, công nghệ, nhân lực và phát triển du lịch xanh.

du lịch việt nam bước vào giai đoạn triển khai quy hoạch

Ngày 10/9/2026, Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hồ An Phong ký Quyết định số 2331/QĐ-BVHTTDL về việc ban hành Chương trình hành động của Bộ thực hiện Quy hoạch hệ thống du lịch thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Đây là bước cụ thể hóa Quy hoạch đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 509/QĐ-TTg ngày 13/6/2024 và được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch điều chỉnh, cập nhật theo Quyết định số 374/QĐ-BVHTTDL ngày 28/2/2026, nhằm phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính cũng như những thay đổi về thể chế, chính sách.

Nếu các mục tiêu của Quy hoạch cho thấy du lịch Việt Nam muốn đi tới đâu trong giai đoạn đến năm 2030 và tầm nhìn 2045, thì Chương trình hành động lần này tập trung vào câu hỏi quan trọng hơn: cần làm gì để những mục tiêu đó có thể trở thành kết quả thực tế.

Những mục tiêu lớn cho năm 2030

Mục tiêu tổng quát của Chương trình là tổ chức triển khai hiệu quả Quy hoạch hệ thống du lịch đã được điều chỉnh, qua đó đưa du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn vào năm 2030. Việt Nam hướng tới giữ vững vị thế trong nhóm đầu Đông Nam Á về quy mô và tốc độ tăng trưởng du lịch, đồng thời chuyển mạnh sang mô hình tăng trưởng xanh và kinh tế tuần hoàn.

Theo các mục tiêu cụ thể, đến năm 2030 Việt Nam phấn đấu đón khoảng 45 - 50 triệu lượt khách quốc tế, với tốc độ tăng trưởng từ 16 - 19% mỗi năm. Khách du lịch nội địa dự kiến đạt 160 triệu lượt, tốc độ tăng trưởng từ 3% mỗi năm. Tổng thu từ khách du lịch được đặt mục tiêu ở mức 80 - 90 tỷ USD, đóng góp trực tiếp khoảng 10 - 12% GDP.

Cùng với sự mở rộng của thị trường khách, nhu cầu về cơ sở lưu trú cũng được dự báo tăng lên khoảng 1,5 triệu buồng vào năm 2030. Quy hoạch đồng thời đặt mục tiêu có 20 Khu du lịch quốc gia được công nhận.

Trước đó, Hoteljob.vn đã đề cập đến định hướng tăng trưởng mạnh của du lịch Việt Nam và cuộc đua nâng chất lượng ngành trong giai đoạn mới. Với Chương trình hành động vừa được ban hành, trọng tâm tiếp tục được dịch chuyển từ những mục tiêu mang tính định lượng sang các nhiệm vụ cụ thể để xây dựng nền tảng cho tăng trưởng dài hạn.

Đọc chi tiết: Du lịch Việt Nam hướng đến mục tiêu "2 con số" và cuộc đua nâng chất lượng ngành

Điều này đặc biệt đáng chú ý với ngành khách sạn. Khi lượng khách, doanh thu và nhu cầu lưu trú cùng được đặt ở mức cao hơn, áp lực lên chất lượng dịch vụ, hạ tầng điểm đến và nguồn nhân lực cũng sẽ tăng tương ứng. Tăng trưởng về số lượng nếu không đi cùng năng lực phục vụ rất dễ tạo ra khoảng cách giữa kỳ vọng của thị trường và trải nghiệm thực tế của du khách.

7 nhóm nhiệm vụ trọng tâm để hiện thực hóa Quy hoạch

Để đưa các mục tiêu của Quy hoạch vào thực tế, Chương trình hành động xác định 7 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm, bao phủ từ hoàn thiện chính sách, tổ chức không gian phát triển đến sản phẩm, thị trường, công nghệ, nhân lực và bảo vệ môi trường.

Thứ nhất là hoàn thiện thể chế, chính sách và pháp luật về du lịch. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch sẽ rà soát, đánh giá để đề xuất sửa đổi, bổ sung Luật Du lịch năm 2017 cùng các văn bản hướng dẫn thi hành; đồng thời tiếp tục hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về du lịch. Chính sách về đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và đãi ngộ nhân lực cũng được đặt trong nhóm nhiệm vụ này, hướng tới phù hợp với tiêu chuẩn nghề ASEAN.

Thứ hai là tổ chức không gian du lịch và phát triển đầu tư. Chương trình đặt yêu cầu đẩy mạnh quy hoạch và thu hút đầu tư hạ tầng tại các Khu du lịch quốc gia, các cực tăng trưởng, khu vực động lực và trung tâm du lịch. Cùng với đó là rà soát, đồng bộ kết nối giao thông bằng đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa, hàng hải và hàng không đến những khu vực có vai trò quan trọng trong mạng lưới du lịch. Việc đẩy nhanh hồ sơ công nhận các Khu du lịch quốc gia đã đủ điều kiện cũng được xác định là một nhiệm vụ cần triển khai.

Đối với doanh nghiệp lưu trú và dịch vụ, hạ tầng kết nối tốt hơn cũng đồng nghĩa với khả năng tiếp cận những dòng khách mới và mở rộng không gian kinh doanh. Một điểm đến có tài nguyên tốt nhưng giao thông khó khăn sẽ khó duy trì dòng khách ổn định; ngược lại, khi giao thông, dịch vụ và hạ tầng được đầu tư đồng bộ, cơ hội phát triển hệ thống khách sạn, nhà hàng và các dịch vụ bổ trợ cũng rộng hơn.

Thứ ba là phát triển sản phẩm du lịch. Bên cạnh những dòng sản phẩm có thế mạnh như du lịch biển đảo, nghỉ dưỡng sinh thái và di sản văn hóa, ngành sẽ thúc đẩy du lịch đô thị gắn với kinh tế ban đêm, đồng thời đa dạng hóa sang MICE, chăm sóc sức khỏe, du lịch cộng đồng, nông nghiệp nông thôn, thể thao mạo hiểm, du thuyền, giáo dục, cửa khẩu và biên giới. Việc phát triển các sản phẩm mới được đặt trong yêu cầu phù hợp với điều kiện từng địa bàn và bảo đảm nguyên tắc phát triển có kiểm soát.

Sự đa dạng này mở ra thêm dư địa cho khối khách sạn - nhà hàng. Khi điểm đến không chỉ dựa vào một dòng khách nghỉ dưỡng hay tham quan truyền thống, doanh nghiệp có thể phát triển nhiều sản phẩm bổ trợ hơn, kéo dài thời gian lưu trú và tạo thêm nguồn doanh thu ngoài phòng nghỉ.

Thứ tư là phát triển thị trường du lịch. Hoạt động xúc tiến, quảng bá sẽ tiếp tục tập trung vào các thị trường trọng điểm gồm Đông Bắc Á, Đông Nam Á, Australia, châu Âu, Bắc Mỹ, Ấn Độ và Trung Đông; đồng thời khôi phục các thị trường truyền thống và phát triển thị trường mới. Marketing điện tử, quảng bá trên các nền tảng số và nghiên cứu xây dựng mạng lưới văn phòng xúc tiến du lịch Việt Nam tại những thị trường trọng điểm, tiềm năng cũng được đặt ra.

Với doanh nghiệp khách sạn, thay đổi cơ cấu thị trường khách sẽ kéo theo những thay đổi trong cách phục vụ. Mỗi thị trường có thói quen tiêu dùng, nhu cầu ẩm thực, ngôn ngữ, phương thức thanh toán và kỳ vọng trải nghiệm khác nhau. Vì vậy, việc mở rộng thị trường không chỉ là câu chuyện quảng bá điểm đến mà còn đòi hỏi doanh nghiệp chuẩn bị đủ năng lực để phục vụ những nhóm khách mới.

Thứ năm là chuyển đổi số và ứng dụng khoa học, công nghệ. Ngành du lịch sẽ tiếp tục xây dựng hệ sinh thái du lịch thông minh, phát triển các phần mềm và ứng dụng phục vụ khách du lịch, doanh nghiệp, hướng dẫn viên và cơ quan quản lý. Cùng với đó là hoàn thiện nền tảng số kết nối doanh nghiệp du lịch với thương mại điện tử và thanh toán không tiền mặt, xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về du lịch và hoàn thiện hệ thống thống kê.

Đối với khách sạn, chuyển đổi số cũng đang đi xa hơn việc đơn thuần sử dụng phần mềm quản lý phòng. Dữ liệu khách hàng, đặt phòng, thanh toán, marketing, chăm sóc khách và vận hành ngày càng liên kết với nhau. Khi hệ sinh thái du lịch thông minh được phát triển đồng bộ, doanh nghiệp sẽ có thêm điều kiện để sử dụng dữ liệu trong quản trị và nâng cao trải nghiệm khách hàng.

Thứ sáu là phát triển nguồn nhân lực du lịch. Chương trình định hướng chuẩn hóa nhân lực theo tiêu chuẩn nghề khu vực ASEAN gắn với Khung trình độ quốc gia Việt Nam, đồng thời chú trọng đào tạo năng lực ứng dụng AI, Big Data, điện toán đám mây, Internet vạn vật và các công nghệ số trong quản trị, kinh doanh và cung cấp dịch vụ du lịch.

Hình thức đào tạo cũng được đa dạng hóa, từ chính quy, đào tạo nghề, các khóa ngắn hạn đến đào tạo tại doanh nghiệp. Chương trình đồng thời thúc đẩy liên kết giữa cơ sở đào tạo, doanh nghiệp du lịch, hiệp hội nghề nghiệp và địa phương trong đào tạo, thực tập, thực hành, đặt hàng đào tạo và giải quyết việc làm cho người học.

Đây là nhóm nhiệm vụ có tác động trực tiếp đến thị trường lao động khách sạn - du lịch. Khi ngành hướng tới phân khúc khách có khả năng chi tiêu cao hơn và các sản phẩm chuyên biệt hơn, yêu cầu đối với người lao động cũng không còn dừng ở việc nắm quy trình nghiệp vụ. Ngoại ngữ, kỹ năng công nghệ, khả năng xử lý tình huống và tư duy dịch vụ sẽ ngày càng trở thành những năng lực quan trọng trong tuyển dụng và vận hành.

Thứ bảy là bảo vệ tài nguyên, môi trường và phát triển bền vững. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch sẽ xây dựng bộ tiêu chí du lịch xanh, triển khai thí điểm tại các khu du lịch trọng điểm và nhân rộng trong giai đoạn 2027 - 2030. Một trong những mục tiêu đáng chú ý là triển khai lộ trình loại bỏ nhựa dùng một lần tại các khu, điểm du lịch, cơ sở lưu trú du lịch và các cơ sở kinh doanh dịch vụ khác ven biển, hướng tới đạt 100% vào năm 2030.

Song song với đó là xây dựng hệ thống xử lý chất thải, nhà vệ sinh công cộng đạt chuẩn tại các trung tâm và Khu du lịch quốc gia; bảo tồn cảnh quan, hệ sinh thái tự nhiên, tài nguyên rừng, đất ngập nước và đa dạng sinh học; giảm phát thải và tăng khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu, nhất là tại các điểm đến ven biển, hải đảo.

Với các khách sạn và khu nghỉ dưỡng, xu hướng này sẽ dần đi vào hoạt động vận hành hàng ngày, từ vật tư sử dụng trong phòng khách, quản lý rác thải, tiết kiệm năng lượng đến lựa chọn nhà cung cấp. Du lịch xanh vì vậy không còn chỉ là câu chuyện hình ảnh mà ngày càng gắn với chất lượng và khả năng cạnh tranh của sản phẩm lưu trú.

du lịch việt nam bước vào giai đoạn triển khai quy hoạch
Du lịch Việt Nam hướng tới mục tiêu đón khoảng 45 - 50 triệu lượt khách quốc tế đến năm 2030 và nhiều hơn nữa

Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam giữ vai trò đầu mối triển khai

Để Chương trình hành động được triển khai thống nhất, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch giao Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam làm cơ quan đầu mối, chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện Quy hoạch, công bố và cập nhật thông tin quy hoạch, đồng thời theo dõi, đôn đốc các cơ quan, đơn vị liên quan thực hiện những nhiệm vụ được giao.

Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam cũng được giao chủ trì các nhiệm vụ về hoàn thiện chính sách, xúc tiến quảng bá du lịch trong nước và quốc tế, hướng dẫn, kiểm tra việc tổ chức thực hiện Quy hoạch tại địa phương. Hằng năm, cơ quan này có trách nhiệm tổng hợp, báo cáo lãnh đạo Bộ về tiến độ thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm và tổ chức tổng kết giai đoạn 2021 - 2030 vào năm 2030.

Các đơn vị khác thuộc Bộ sẽ phối hợp triển khai những nhiệm vụ liên quan theo chức năng, trong khi các bộ, cơ quan ngang bộ được đề nghị bảo đảm sự thống nhất giữa Quy hoạch hệ thống du lịch với các chiến lược, quy hoạch có liên quan.

Ở địa phương, UBND các tỉnh, thành phố được đề nghị tổ chức thực hiện Quy hoạch, rà soát và điều chỉnh các quy hoạch, kế hoạch, dự án du lịch để bảo đảm thống nhất với Quy hoạch quốc gia. Các địa phương cũng được định hướng chủ động bố trí nguồn lực, quỹ đất, thu hút nhà đầu tư chiến lược và tăng cường liên kết liên tỉnh trong các khu vực động lực, hành lang du lịch.

Đối với các dự án tại khu vực ven biển, hải đảo, cửa khẩu và biên giới, quá trình quy hoạch và đầu tư phải đồng thời tính đến các yêu cầu về quốc phòng, an ninh, quản lý biên giới, quản lý cửa khẩu, phòng thủ dân sự, tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn và bảo vệ môi trường. Các nhiệm vụ, dự án liên quan đến du lịch cũng phải bảo đảm phù hợp với các quy hoạch quốc gia, vùng, tỉnh, đô thị và nông thôn, sử dụng đất và các quy hoạch chuyên ngành đã được phê duyệt.

Quy hoạch mới sẽ đặt ra yêu cầu gì cho ngành khách sạn?

Nhìn từ góc độ doanh nghiệp, điều đáng chú ý trong Chương trình hành động không chỉ nằm ở mục tiêu đón 45 - 50 triệu khách quốc tế hay đạt 80 - 90 tỷ USD tổng thu từ khách du lịch. Quan trọng hơn, những nhiệm vụ được đưa ra đang cho thấy cách ngành du lịch Việt Nam muốn tăng trưởng trong giai đoạn tiếp theo: mở rộng quy mô nhưng đồng thời nâng chất lượng, đa dạng sản phẩm, ứng dụng công nghệ và sử dụng hiệu quả hơn nguồn nhân lực.

Đối với khách sạn, resort và nhà hàng, điều này có thể tạo ra thêm dư địa thị trường nhưng cũng khiến cuộc cạnh tranh về chất lượng trở nên rõ ràng hơn. Khi nhiều điểm đến được đầu tư, sản phẩm du lịch phong phú hơn và thị trường khách mở rộng, khách hàng sẽ có nhiều lựa chọn. Những cơ sở chỉ dựa vào vị trí đẹp hoặc công suất phòng cao sẽ khó duy trì lợi thế nếu trải nghiệm, dịch vụ và khả năng vận hành không theo kịp.

Nguồn nhân lực cũng sẽ là một trong những yếu tố quyết định chất lượng tăng trưởng. Việc chương trình đặt vấn đề chuẩn hóa theo tiêu chuẩn nghề ASEAN, đào tạo công nghệ và tăng liên kết giữa nhà trường với doanh nghiệp cho thấy yêu cầu đối với lao động du lịch sẽ ngày càng thực tế hơn. Doanh nghiệp không chỉ cần tuyển đủ người mà phải xây dựng được đội ngũ có khả năng thích ứng với khách hàng mới, công nghệ mới và những tiêu chuẩn dịch vụ cao hơn.

Ở một chiều khác, yêu cầu về du lịch xanh cũng sẽ khiến hoạt động vận hành khách sạn thay đổi. Những vấn đề trước đây có thể được xem là hoạt động môi trường hoặc trách nhiệm xã hội sẽ dần trở thành một phần trong tiêu chuẩn sản phẩm. Doanh nghiệp nào chủ động chuyển đổi sớm sẽ có lợi thế hơn khi thị trường và khách hàng ngày càng quan tâm đến yếu tố bền vững.

Từ quy hoạch đến thực tế vẫn là một chặng đường dài, bởi hiệu quả cuối cùng phụ thuộc vào khả năng phối hợp giữa cơ quan quản lý, địa phương, doanh nghiệp và cơ sở đào tạo. Tuy nhiên, với việc đã xác định rõ các nhóm nhiệm vụ, cơ quan đầu mối và trách nhiệm triển khai, Chương trình hành động mới đang tạo thêm cơ sở để những mục tiêu của Quy hoạch du lịch Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030 từng bước đi vào thực tế. Với ngành khách sạn - nhà hàng, đây cũng là giai đoạn cần chuẩn bị sớm hơn về con người, sản phẩm và năng lực vận hành nếu muốn đón được cơ hội tăng trưởng trong những năm tới.​

Ms. Smile

Tags:
Du lịch Việt Nam bước vào giai đoạn triển khai quy hoạch với 7 nhóm nhiệm vụ trọng tâm
4.4 (764 đánh giá)
KIẾM TIẾN VỚI HOTELJOB.VN